Mỹ tuyên bố rút 900 thiết bị đặc biệt, đã sẵn sàng thực hiện mục tiêu lớn hơn

Mỹ hướng tới tập trung phát triển công nghệ cao để hoàn thành mục tiêu lớn.
Mỹ tuyên bố rút 900 thiết bị đặc biệt, đã sẵn sàng thực hiện mục tiêu lớn hơn - Ảnh 1.

Theo The Guardian, Mỹ quyết định tháo dỡ một hệ thống quan sát biển sâu trị giá 368 triệu USD, hệ thống đã cung cấp các dữ liệu quan trọng về các hệ thống đại dương và biến đổi khí hậu trong hơn một thập kỷ qua.

Vào ngày 21/5, Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (NSF) cho biết họ đã “khởi động việc thu hẹp quy mô của Sáng kiến Các Đài quan sát Đại dương” (Ocean Observatories Initiative - OOI), một mạng lưới quan sát đại dương quy mô lớn gồm hơn 900 thiết bị thu thập dữ liệu về sức khỏe của đại dương, bao gồm các mô hình dòng hải lưu, biến động khí hậu và đa dạng sinh học biển.

New York Times cho biết, năm 2016, OOI triển khai khoảng 900 thiết bị cả cố định lẫn di động như phao nổi, cáp neo cảm ứng, hộp kết nối đáy biển, máy đo đạc theo độ sâu, tàu lượn ngầm và phương tiện tự hành dưới nước (AUV). Chúng đặt tại nhiều địa điểm thuộc Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và liên tục thu thập dữ liệu theo thời gian thực

Các thiết bị cũng được thiết kế đặc biệt nhằm chống chọi với áp suất khổng lồ và độ mặn cao gây mòn dưới biển sâu. Nhà khí tượng biển Jim Edson, đứng đầu OOI, gọi đây là "mạng lưới quan sát đại dương liên tục tiên tiến nhất thế giới".

Ông Mike England, người đứng đầu bộ phận truyền thông của NSF, cho biết chương trình này không bị hủy bỏ hoàn toàn và mô tả kế hoạch trên là một hoạt động “thu hẹp quy mô”, tức cắt giảm một số thành phần. Đây là hoạt động tái cơ cấu hạ tầng nghiên cứu, thực hiện mục tiêu lớn hơn là ưu tiên nguồn lực cho các công nghệ và khoa học mới.

Sau thông báo này, điều tra viên chính của OOI, ông Jim Edson, cho biết kế hoạch của NSF bao gồm một quy trình thu hồi và tháo dỡ cơ sở hạ tầng theo từng giai đoạn, dự kiến diễn ra trong vòng 15 tháng tới. “Khi cơ sở hạ tầng được thu hồi khỏi từng cụm thiết bị quan sát, các luồng dữ liệu thời gian thực liên quan cùng năng lực quan trắc tại những địa điểm đó cũng sẽ chấm dứt”, ông Edson cho biết.

Động thái này sẽ chấm dứt hơn một thập kỷ giám sát đại dương liên tục kể từ khi hệ thống chính thức đi vào hoạt động vào tháng 6/2016.

Mô tả mạng lưới này là hệ thống “đã mang lại những hệ thống quan trắc đại dương vận hành liên tục tiên tiến nhất thế giới”, ông Edson nói thêm: “Chúng tôi vô cùng biết ơn những nỗ lực phi thường của các nhà khoa học, kỹ sư, nhân viên vận hành, nhà giáo dục, sinh viên và các đối tác đã biến cơ sở này thành hiện thực, cũng như những người vẫn đang tiếp tục phát huy di sản của nó thông qua việc sử dụng các dữ liệu mà hệ thống tạo ra”.

Tuy nhiên, Hilary Palevsky, giáo sư chuyên nghiên cứu địa hóa sinh học biển và hải dương học tại Boston College, chỉ ra tầm quan trọng của những dữ liệu sẽ bị mất đi, đặc biệt khi xét tới trình độ kỹ thuật tinh vi cần thiết để triển khai và duy trì các thiết bị này.

“Một trong những sức mạnh thực sự của OOI và của rất nhiều hoạt động thu thập dữ liệu tự động là những nhà khoa học như tôi không cần phải có chuyên môn hay nguồn lực để tự triển khai loại cơ sở hạ tầng này. Việc có thể sử dụng các thiết bị vừa hoạt động ngoài khí quyển và nổi trên bề mặt đại dương, vừa có thể tồn tại qua những đợt hòa trộn cực sâu và những con sóng mạnh ở dưới lớp nước bên dưới là điều vô cùng giá trị”, Palevsky cho biết.

Bà nói thêm: “Trong hơn 10 năm kể từ khi các thiết bị này được triển khai, chúng ngày càng hoạt động tốt hơn. Vì vậy, lượng dữ liệu thu được cũng ngày càng chất lượng hơn theo thời gian. Cộng đồng khoa học thực sự mới chỉ bắt đầu đến giai đoạn có thể khai thác hiệu quả khối dữ liệu đã được thu thập cho tới nay. Tôi thực sự tiếc khi bộ dữ liệu quan trọng này không thể được tiếp tục duy trì".

Palevsky cũng cảnh báo rằng việc tái thiết một mạng lưới như vậy trong tương lai sẽ rất khó khăn: “Nếu chúng ta muốn đưa các thiết bị này trở lại hoạt động, chúng ta cần những con người biết cách thực hiện điều đó, trong khi chính đội ngũ sở hữu chuyên môn này đang bị giải thể cùng với chương trình cơ sở hạ tầng".

Ông Mike England, người đứng đầu bộ phận truyền thông của NSF, cho biết chương trình này không bị hủy bỏ hoàn toàn: “NSF không hủy bỏ Sáng kiến Các Đài quan sát Đại dương. Quyết định thu hẹp quy mô phù hợp với chiến lược rộng lớn hơn của NSF về cách tiếp cận linh hoạt hơn nhằm ưu tiên hỗ trợ các ưu tiên khoa học đang thay đổi và các công nghệ mới nổi, cũng như quản lý vòng đời một cách thông minh trong danh mục cơ sở hạ tầng nghiên cứu của mình".